(Bộ 2 quyển) GIÁO TRÌNH PHẠN VĂN & NGỮ PHÁP PHẠN NGỮ

Giá

:

325.000₫

Mô tả :
Tác giả:

Giáo trình Phạn văn: Thomas Lehmann & Đỗ Quốc Bảo

Ngữ pháp Phạn ngữ: Franz Kielhorn (Đỗ Quốc Bảo soạn dịch Việt)

Phát hành: 5/2020 và 9/2020
NXB: Hồng Đức

Giảm 10% khi mua trọn bộ Kinh A-hàm hoặc Luận A-tì-đạt-ma Câu-xá

Giảm 10% khi mua trọn bộ Kinh A-hàm hoặc Luận A-tì-đạt-ma Câu-xá

Miễn phí giao hàng đối với quý Tăng - Ni (đơn hàng trên 1.500.000đ)

Miễn phí giao hàng đối với quý Tăng - Ni (đơn hàng trên 1.500.000đ)

Giảm 10% mọi tựa sách khi thỉnh mua trực tiếp tại Thư quán

Giảm 10% mọi tựa sách khi thỉnh mua trực tiếp tại Thư quán

Hỗ trợ gửi TẶNG SÁCH

Hỗ trợ gửi TẶNG SÁCH

Sách mới:
GIÁO TRÌNH PHẠN VĂN

Quyển sách Giáo khoa căn bản về Ngữ pháp Sanskrit theo tiêu chuẩn Đại học của CHLB Đức, do Thomas Lehmann và Đỗ Quốc Bảo, Giáo sư, Tiến sĩ chuyên ngành Cổ Ấn-độ học Đại học Heidelberg biên soạn. Hương Tích ấn hành tháng 5/ 2020. Tác giả giữ bản quyền.
___

“… Khoảng năm 2000, tôi gặp Đỗ Quốc Bảo tại Già-lam. Biết anh đang theo học chuyên môn Sanskrit với các Giáo sư Sanskrit hàng đầu hiện tại ở Đức, tôi đề nghị anh mở lớp Sanskrit ngắn hạn, đồng thời soạn một quyển Giáo khoa Phạn ngữ thích hợp cho trình độ tăng ni sinh Việt nam. Khoá học chỉ diễn ra một thời gian cực ngắn với số học viên khá ít. Không chỉ riêng anh thất vọng, mà tôi cũng thất vọng không kém.

Sau này, khi giảng Thành duy thứcCâu-xá cho một số thầy cô, tôi đã cố gắng nêu những điểm khó trong bản Hán mà nếu không biết đến ngữ pháp Sanskrit thì không thể hiểu được, với mục đích khơi dậy hứng thú học Phạn ngữ. Cụ thể như trong bài tựa Thành duy thức, Khuy Cơ sớ giải rất rõ, câu tụng “đảnh lễ Duy thức tánh” thuộc biến cách bảy (sở y/ư cách, Thuật ký: 聲境第七攝; Hán thường gọi là sở y cách 所依第七囀聲), và câu tụng “Mãn Phần thành tịnh giả” thuộc biến cách bốn (sở dữ cách, 第四囀攝,此梵本音。一切所敬皆第四囀故, Hán gọi là vị cách 第四為聲). Nếu không rõ ý nghĩa các biến cách danh từ này thì sẽ không biết “ai đảnh lễ ai ở đâu”...

Cho đến khi giảng Câu-xá, do có nguyên bản Sanskrit, và các bản dịch đối chiếu từ Hán, Tạng, Nhật, Pháp và Anh, tuy vậy, dễ thấy các điểm ngữ pháp trong đó vô cùng phức tạp mà các bản Hán không thể chuyển dịch. Qua sớ giải của Yaśomitra, nhiều quy tắc từ Pāṇini được dẫn và giải, cho thấy các bản Hán nhiều khi đã phải lược qua vì không có từ hoặc khái niệm tương đương… Sanskrit thuộc loại ngôn ngữ đa âm tiết; mỗi từ được hợp thành bởi nhiều yếu tố. Các từ chuyển tải ý nghĩa của mỗi yếu tố, mặc dù được chỉ định như là từ chuyên biệt ngữ pháp, thảy đều mang nội hàm triết học, phản ảnh tư duy Ấn-độ cổ đại. Lấy ví dụ, trong các từ được gọi là động từ, nó bao gồm phần chính mà ta gọi là ngữ căn hay gốc động từ, vốn dịch Việt của từ Anh verbal root, nguyên Phạn ngữ của nó là dhātu, Hán dịch là tự giới. Cùng với tiền tố prefix của nó, và hậu tố biến hoá của nó, termination, nguyên Phạn ngữ là pratyaya, Hán dịch là tự duyên. Từ dhātu mặc dù được dùng trong phạm trù ngữ pháp ở đây vẫn phản ánh tư duy triết học như trong các luận thư Abhidharma. Nội hàm của từ dhātu mang tính triết học trong bài tụng dưới đây dẫn từ Luận Nhiếp Đại thừa (Mahā-yānasaṃgrahaśāstra) vẫn áp dụng cho từ dhātu như là động từ căn trong phạm trù ngữ pháp:

anādikāliko dhātuḥ sarvadharmasamāśrayaḥ |
tasmin sati gatiḥ sarvā nirvāṇādhigamo ’pi ca ||

Hiểu nội hàm của từ dhātu trong cả hai ngữ cảnh khác nhau này cho thấy mối quan hệ mật thiết trong tư duy triết học và tư duy ngôn ngữ học. Ý nghĩa này càng được thấy rõ tầm quan trọng khi trong nhiều Kinh đức Phật truy nguyên gốc của một từ thông dụng từ dhātu của nó…

Một ít thí dụ dẫn trên chỉ muốn cho thấy các từ chuyên biệt của ngữ pháp đều phản ánh những tư duy triết học. Đây là điểm khó cho biên soạn Giáo trình cũng như Ngữ pháp Sanskrit bằng ngôn ngữ phương vực của mình. Các nhà Phạn học phương Tây khi biên soạn các sách ngữ pháp Sanskrit đã không thể tìm thấy những từ chuyên biệt ngữ pháp Sanskrit tương đương trong kho từ vựng ngữ pháp, mà chỉ mượn một số từ trong từ vựng ngữ pháp La-tinh xem là tương đương, chỉ về mặt hình thức và kỹ thuật. Dù vậy, số từ vựng được xem là tương đương này vẫn không đủ, so với kho từ vựng ngữ pháp Sanskrit phong phú.

Về phần tiếng Việt, hầu hết từ vựng ngữ pháp trong hiện tại phần lớn chỉ tìm thấy những từ thông dụng dịch từ các ngôn ngữ Anh hay Pháp, số lượng thật nghèo nàn. Trong nhiều thảo luận với Đỗ Quốc Bảo về vấn đề này, tôi biết anh đã dụng công quá nhiều để có thể giúp người học có một kiến thức cơ bản từ vựng ngữ học Sanskrit để sau đó khả dĩ đi sâu vào các văn bản Phật giáo, từ các Kinh Phật thuyết cho đến các luận thư Abhidharma. Làm được điều này, đòi hỏi soạn giả phải thông thạo tiếng Việt có vốn liếng từ Hán căn bản, và nhất là nắm vững ý nghĩa các từ chuyên biệt ngữ pháp trên cơ sở tư duy triết học. Cái gọi là “tiếng Việt thuần tuý”, từ chối tất cả có gốc Hán, hầu như chỉ là sáo rỗng.

Người Nhật cũng học Hán, chịu ảnh hưởng văn minh Hán tộc, nhưng qua lịch sử phát triển, đã thâu thái thành bản sắc cá biệt của mình. Khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, họ thấy nhiều từ trong các lãnh vực khoa học, kinh tế, tôn giáo trong các ngôn ngữ phương Tây khó tìm thấy tương đương trong kho từ vựng Hán đã được Nhật hoá. Họ đã tạo thêm những từ mới vay mượn các từ Hán cổ để dịch các từ như philosophy, hay economy/ economics..., thành các từ Nhật bằng Hán tự gọi là kanji như triết học, kinh tế... Người Hoa hiện tại vẫn phải dùng các từ này, vốn không là những từ sáng tạo của Hán tộc, mà của người Nhật. Vậy thì, chúng ta dùng các từ Hán cổ để dịch những từ Sanskrit mà trong kho ngôn ngữ Việt hoặc thuần giống hoặc Việt hoá từ Hán trong chừng mực có thể gần với nội hàm của từ Sanskrit được hiểu trong phạm trù ngữ pháp mà cũng không làm mất đi tư duy triết học trong đó. Đây là điều mà tôi cảm nhận Đỗ Quốc Bảo đang cố gắng. Nhiều từ anh dùng trong các tập Giáo trình và Ngữ pháp Sanskrit có thể rất lạ tai với các học viên hay độc giả vốn chỉ quen với các từ ngữ pháp trong tiếng Anh hoặc Pháp.

Trong thực tế, một từ mới phát sinh trong các quan hệ xã hội, nếu nó phản ánh được trạng thái tồn tại cũng như mối quan hệ xã hội giữa người và người, nó sẽ sống và phát triển lâu dài. Nếu nó không phản ánh được như vậy, chỉ trong một thời sẽ bị quên lãng, hoặc biến mất. Cho nên, nhiều từ ngữ pháp trong tập ngữ pháp này cũng rất lạ tai đối với tôi, nhưng tôi vẫn sẵn sàng chấp nhận. Cho đến khi nếu tôi cảm thấy, hay tìm thấy từ nào khác hơn có thể thay thế, tôi sẽ đề nghị thay thế.

Vậy tôi mong tập sách này sẽ giúp những vị có nhiều cảm hứng trong việc học Sanskrit không chỉ dừng lại ở cảm hứng đối với ngôn ngữ kỳ diệu Sanskrit, mà từ căn bản này đi sâu vào tư duy triết học trong Phật học, và có thể rộng hơn nữa, khuynh hướng tư duy triết học Ấn cổ đại.”

Thị ngạn am, đầu xuân Canh Tý, 2020
Tuệ Sỹ

 

---

Sách mới:
NGỮ PHÁP PHẠN NGỮ

LỜI GIỚI THIỆU 
CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH NGUYÊN GIÁC

___

“Tiếng Phạn thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, xuất hiện cách nay khoảng ba ngàn rưỡi năm. Nó hình thành một nền văn học lớn trong lịch sử cổ đại và trung đại của Ấn-độ, bao gồm mọi lãnh vực, từ tôn giáo, triết học, văn chương, cho đến, chính trị, toán học, y học, thiên văn v.v..., và có ảnh hưởng sâu rộng trong các dân tộc trên thế giới, nhất là những dân tộc thuộc vùng Đông nam châu Á. Riêng đối với Phật giáo, tiếng Phạn là một trong bốn thánh ngữ, giữ một vai trò hết sức quan trọng về mặt văn bản học. Toàn bộ kinh điển của Nhất thiết hữu bộ và Phật giáo Đại thừa đều được lưu truyền bằng Phạn văn, sau đó mới được dịch sang Hán văn hay Tạng văn. Vì vậy, để nghiên cứu nghiêm túc các thánh điển Phật giáo thuộc các văn hệ ấy, tiếng Phạn là điều kiện không thể thiếu. Ngay cả khi tụng đọc các Thánh điển Phật giáo thuộc tạng Pāli, muốn nắm chính xác ý nghĩa các thuật ngữ hay định cú trong những văn bản này, người ta không thể không truy cứu về nguồn gốc tiếng Phạn của nó. Từ đầu thế kỷ thứ 19, Phật giáo Nhật Bản ý thức vai trò quan trọng này, họ đã gửi người sang Anh và Đức để học tiếng Phạn. Chủ trương đúng đắn ấy đã giúp họ thiết lập một nền tảng vững chắc cho việc phát triển sâu rộng sự nghiệp học tập và nghiên cứu Phật giáo của Nhật Bản.

Việt Nam chúng ta đã biết đến tiếng Phạn khá sớm qua việc tiếp xúc với các Nhà sư Ấn-độ đến Giao châu hoằng pháp từ thời Hùng vương. Các tư liệu Phật giáo kể lại không ít những nhà sư Việt Nam biết rành tiếng Phạn, như Khương Tăng Hội, Đạo Thanh, Huệ Thắng, Sùng Phạm, Đại Thừa Đăng v.v. Cho đến cuối thế kỷ 13, vua Trần Nhân Tông đã nhờ nhà sư Bồ-đề Thất-lợi (Bodhiśrī) dịch Kinh Lăng-nghiêm tiếng Phạn sang Hán văn. Tuy nhiên phong trào học tiếng Phạn này chưa được phát triển và quan tâm đủ mức cần thiết để phục vụ lâu dài cho việc nghiên cứu trực tiếp các thánh điển Phật giáo tiếng Phạn. Đến nửa cuối thế kỷ 19, đất nước không may lại rơi vào cuộc chiến chống ngoại xâm kéo dài gần một thế kỷ, việc học tiếng Phạn càng không được quan tâm. Mãi đến 1964, với sự ra đời của Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, tiếng Phạn mới được bắt đầu để ý trở lại trong tình trạng tư liệu học tập hết sức thiếu thốn. Giáo trình tiếng Phạn bấy giờ đã hiếm hoi, mà lại toàn bằng tiếng ngoại ngữ. Còn từ điển tiếng Phạn thì hầu như không có.

Chúng tôi may mắn được học tiếng Phạn với thầy Lê Mạnh Thát vào mùa hè năm 1974. Sau này được thầy giao đảm trách dạy môn tiếng Phạn lớp căn bản cho Tăng sinh nội trú ở chùa Già Lam vào năm 1980-1984. Đến năm 2006, thầy lại nhờ tôi dạy môn tiếng Phạn cho Tăng ni sinh Khoa Phật giáo Phạn Tạng của Học Viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Lần này tôi có thuận duyên được anh Đỗ Quốc Bảo gửi cho bản thảo bộ Giáo Trình Phạn Văn sơ cấp gồm hai tập của Lehmann mà anh đã học qua và soạn dịch ra tiếng Việt. Tôi đã chọn giáo trình này vì thấy nó sắp xếp tuần tự từ dễ đến khó, thích ứng với trình độ người mới học tiếng Phạn, mà lại phù hợp với thời gian và chương trình học của Học viện. Đặc biệt, những bài đọc được trích dẫn từ Hitopadeśa, nhưng biên soạn lại cho ngang tầm trình độ sơ cấp, đã giúp sinh viên hứng thú học tập khi tiếp cận được tư tưởng và văn hóa Ấn-độ. Tuy nhiên, để đáp ứng những điều kiện ấy, các bài học trong phần ngữ pháp được chia thành nhiều bài tương ứng với phần bài tập, chứ không sắp xếp tập trung theo từng đề mục. Việc này sẽ gây khó khăn cho sinh viên khi cần tra cứu. Để khắc phục nhược điểm này, trước đây chúng tôi đề nghị sinh viên tham khảo cuốn Ngữ Pháp Tiếng Phạn của Thầy Lê Mạnh Thát biên soạn hay của các tác giả khác. Nay anh Đỗ Quốc Bảo biên tập và dịch sang tiếng Việt cuốn A Grammar of The Sanskrit Language của Franz Kielhorn để giúp công tác giảng dạy và học tập tiếng Phạn ở Việt Nam, với hoài bão đặt nền móng cho ngành cổ Ấn-độ học sau này tại nước nhà.

Mặc dầu các thuật ngữ anh dùng trong cuốn Ngữ Pháp Phạn Ngữ này phần lớn là từ Hán-Việt, có tính hàn lâm, hơi khó hiểu đối với người mới học tiếng Phạn, cuốn ngữ pháp này, với phần bổ sung tra căn động từ theo thân và đuôi biến vị, cùng các cú pháp đặc biệt, là một tài liệu rất hữu ích và cần thiết để tra cứu khi học tiếng Phạn theo giáo trình anh đã biên dịch.

Với lòng mong muốn góp phần phát triển Phật học nước nhà, phát triển việc nghiên cứu mảng văn hóa Chàm của Tổ quốc, và văn học cổ đại, trung đại của Ấn-độ, chúng tôi trân trọng ghi mấy lời giới thiệu này để tỏ lòng chân thành tán dương hoài bão của anh Đỗ Quốc Bảo, và cám ơn sự giúp đỡ quý báu anh đã dành cho chúng tôi bấy lâu nay trong công tác giảng dạy tiếng Phạn. Quảng Hương Già Lam, cuối tháng 3 năm 2020. Nguyên Giác.

Quảng Hương Già Lam, cuối tháng 3 năm 2020.
Nguyên Giác.

 

LỜI NÓI ĐẦU CỦA NGƯỜI SOẠN DỊCH (trích) 

___

(...) Tôi chọn A Grammar of The Sanskrit Language của Kielhorn làm quyển ngữ pháp tiêu chuẩn cho giới hâm mộ Phạn ngữ tại Việt Nam vì nhiều nguyên do. Nguyên do thứ nhất, như đã nói, là kỉ niệm 150 năm ngày ra đời của quyến sách quý báu này. Nguyên do thứ hai là tôi đã trải qua chương trình đào tạo Phạn học tại CHLB Đức và vì vậy, ngay từ lúc bắt đầu học đã làm quen với cách trình bày, giảng dạy tiếng Phạn theo các nhà cổ Ấn-độ học người Đức cũng như cách dùng thuật ngữ phân tích của họ. Song song với quyển Elementarbuch der Sanskrit- sprache ('Sách học căn bản dành cho tiếng Phạn') của Adolf Friedrich Stenzler (1807-1887), quyển ngữ pháp của Kielhorn - cũng chính là học trò của vị này - được xem là quyển đứng đầu tại Đức, được giới chuyên môn đánh giá rất cao. Riêng tôi đánh giá quyển này cao hơn cả quyển của Stenzler vì Kielhorn trình bày dễ hiểu và hầu như tất cả vấn đề văn phạm tiếng Phạn cổ điển mà sinh viên chạm trán trong suốt chương trình học đều được xử lí tường tận và đây cũng là nguyên do thứ ba.

Ngữ Pháp Phạn Ngữ của Kielhorn có thể được xem là quyển ngữ pháp đầy đủ nhất cho tiếng Phạn cổ điển trong tất cả những quyển được công bố từ trước đến nay bằng một ngôn ngữ châu Âu. Kielhorn lấy bộ Bát thiên thư (Aṣṭādhyāyī) của Pāṇini làm cơ sở và dùng các bộ chú giải bản xứ nghiên cứu tường tận rồi sau đó mới đúc kết tất cả kiến thức này vào quyển ngữ pháp của ông. Nhiều cấu trúc văn phạm cực kì hiếm có cũng được ông đề cập đến và giải thích.

(...) Trong quá trình dịch ban đầu, tôi đã cố gắng trình bày các thuật ngữ ngôn ngữ học Ấn-Âu dễ hiểu cho độc giả người Việt như có thể, cụ thể là tìm cách 'Việt hoá' các thuật ngữ, nhưng sau một thời gian suy nghĩ kĩ về điều này, thậm chí đã áp dụng chúng, tôi không hài lòng với kết quả và bỏ qua dự án vì tính chất bất khả thi của nó. Bất khả thi ít nhất là đối với tôi với yêu cầu không nhỏ là trình bày nội dung của một từ được chuyển tải không bị mất mát hoặc ít mất mát so với nguyên ngữ như có thể, và tôi không dừng bước ở nội dung của những từ đơn chiếc, mà là tất cả những từ, một hệ thống thuật ngữ có đủ gravi-tas để truyền đạt một cách tiền hậu nhất trí nguyên một hệ thống văn phạm đồ sộ, nếu không muốn nói là đồ sộ nhất trong các ngôn ngữ văn minh cổ trên thế giới. Tiếng Phạn có một hệ thống ngữ pháp cực kì phong phú với tính chính xác trong cách ứng dụng gần như là toán học. Cách trình bày các quy tắc ngữ pháp ta có thể so sánh với các công thức toán học dưới dạng ngôn ngữ và điều gian nan cho tất cả những người soạn dịch những tác phẩm ngôn ngữ học như tôi nằm ở việc tìm các thuật ngữ tương đương cá biệt trong tiếng Việt không bị pha lẫn nghĩa với nhau. Thế nên, điều tôi đã không tránh khỏi trong khi soạn dịch quyển Ngữ pháp này là dùng rất nhiều từ có gốc Hán-Việt với một số nghe rất lạ tai, như Hoà Thượng Thích Tuệ Sỹ có phê bình trong lời giới thiệu quyển Giáo Trình Phạn Văn. Tôi chọn và dùng chúng chỉ vì tính chính xác gần như tương đương 1:1 so với nguyên ngữ Anh và Đức vốn có gốc La-tinh. 

(...) Với quyển Ngữ Pháp Phạn Ngữ này (vol. II,1) tôi hoàn tất phần đầu của bộ thứ hai - tức là bộ văn phạm bao gồm Ngữ pháp và Cú pháp (II, 2) - của dự án bộ ba Phạn học sau Giáo Trình Phạn Văn (I) (*) đã được công bố. Tôi hi vọng Cú Pháp Phạn Ngữ, và bộ thứ ba là quyển Phạn-Việt Từ Điển (III) sẽ sớm được ra mắt độc giả hâm mộ Phạn học. (...)

Heidelberg, mùa hè năm Canh Tí, 2020
Đỗ Quốc Bảo, PhD

_______
(*) Giáo Trình Phạn Văn, Hương Tích đã phát hành tháng 5/2020.